CHÍNH ĐẢNG và CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG
Chính đảng là một tập họp có mục đích
chính trị, một tập thể cùng theo đuổi,
thực thi một lư tưởng, một đường
lối, một chủ nghĩa chính trị . Hay nói một
cách khác, những thành viên trong cùng một chính đảng
đều có chung một tín ngưỡng chính trị .
Ở Việt Nam vào thời Pháp mới xâm
lăng, các phong trào Cần Vương, Văn Thân... là
những tập hợp có mục đích chính trị
nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để giành
lại vương quyền cho nhà Nguyễn . Nối
tiếp là thời kỳ của các hội kín . Hội kín
là những tổ chức có mục đích chính trị nhưng
chưa có chủ nghĩa, chưa có một hệ thống
lư thuyết chính trị rơ ràng . Bắt đầu vào
những năm cuối thập niên 20, h́nh thức chính
đảng đă hiện rỏ . Bởi v́, những
tập hợp, những tổ chức trong thời kỳ
nầy đều phụng sự một chủ thuyết
chính trị như: Việt Nam Quốc Dân Đảng
với Chủ Nghĩa Tam Dân, Đông Dương Cộng
Sản Đảng với Chủ Nghĩa Marx, Đại
Việt Quốc Dân Đảng với Chủ Nghĩa Dân
Tộc Sinh Tồn . Đến thập niên 40 lần lượt
xuất hiện Đại Việt Duy Dân với Chủ
Thuyết Duy Dân, Đại Việt Quốc Xă với lư
thuyết Duy Trung Tam Vật, Đại Việt Dân Chính
với lư thuyết chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường
tam đúc kết...Hầu hết các lư thuyết, chủ
nghĩa nêu trên đều dựa trên một căn
bản triết học và đương nhiên đă có
sẳn tính chất miên viễn, diên trường . Khác
với những kết hợp của các Hội Đoàn,
Mặt Trân, Liên Minh...chỉ có mục đích nhằm
đáp ứng với nhu cầu của từng giai đoạn
hay từng thời kỳ ngắn hạn, chính đảng
là sự kết hợp có tính cách cán bộ, mang sắc
thái của một tập đoàn cán bộ có cùng chung
một chí hướng (danh từ Đồng Chí được
dùng trong trường hợp nầy), tuyệt đối tôn
trọng kỷ luật của tổ chức và được
đào tạo - huấn luyện về chủ thuyết
cũng như lư tưởng mà đảng đang
theo đuổi .
Đó là những tính chất của của các chính đảng
ở chính trường Việt Nam, nói chung, và của
Đại Việt Quốc Dân Đảng, nói riêng .
Nếu quan niệm về "chính đảng" như
tŕnh bày ở trên, th́ Chủ Thuyết Chính Trị
của các chính đảng ở Mỹ là ǵ ?
Đồng đảo người di dân
đến từ Âu Châu đă mang theo tất cả
những trào lưu tư tưởng mới của
trời Âu, nhất là của John Locke . Tuyên Ngôn Độc
lập và Hiến Pháp hoa Kỳ là sự kết hợp các
tinh hoa từ những ḍng tư tưởng mới và
tiến bộ của Tây Phương thời ấy .
Những chủ thuyết chính trị vừa manh nha hay c̣n
nằm dưới dạng một tiền đề
triết học cũng được cẩn thận nghiên
cứu để t́m ra được những tin hoa
cốt lơi, tạo điều kiện cho ḥa nhập và
thực thi tại Hoa Kỳ. Những chủ thuyết chính
trị ở Âu Châu đă biến thành những mô h́nh
hiện hữu trong Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến
Pháp Mỹ . Do đó, nhu cầu chủ nghĩa, lư
thuyết chính trị riêng rẻ cho từng chính đảng
đă bị hóa giải v́ không c̣n cần thiết
nữa . Nói một cách khác, nếu muốn t́m những ư
niệm cao đẹp của John Locke, của Montesquieu , hay
của Proudhon để đạt đến tinh thần xă
hội bao dung, th́ hăy thực thi Hiến Pháp Hoa Kỳ .
Trong một môi trường chính trị như vậy nên
mục tiêu cho lư tưởng mà
các chính đảng theo đuổi là bảo vệ và
thực thi Hiến Pháp Hoa Kỳ mà thôi .
II. CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG
Cách mạng, các nha cách mạng, chính trị ở Á Đông đều thỏa thuận với nhau về một định nghĩa chung cho danh từ Cách
Mạng . Cách có nghĩa là cánh chim thay lông hoặc lông non của cách chim vừa mới mọc sau khi lông ǵa đă
rụng . Mạng có nghĩa là thiên mạng, trong chế độ quân chủ th́ vua là người thừa thiên mạng để trị dân . Cách mạng có nghĩa chung là thay
đổi lệnh của trời, tức là xóa bỏ vua . Nhưng theo nguyên nghĩa lông non được mọc ra trên cánh chim, sau khi lông ǵa đă rơi rụng, như vậy lông non phải là nguồn sinh lực mới, tất nhiên phải mạnh mẽ và tốt đẹp hơn . Cộng chung hai chữ, cách mạng có nghĩa là vua đă ǵa, lạc hậu, phải được thay thế bằng người trẻ th́ chế độ mới tốt đẹp và mạnh mẽ hơn .
V́ vậy mà cuộc biến đổi ở nước Nhật đầu thế kỷ 20 tuy đă làm cho nước nhật trở nên giàu mạnh hơn nhưng Minh Trị Thiên Hoàng vẫn là vị vua của nước này, nên người đời đă gọi đó là một cuộc Duy Tân ở Á Châụ Ở Pháp năm 1779 và ở Trung Hoa năm 1911 là những cuộc cách mạng đầu tiên đúng nghĩa với định nghĩa Cách Mạng như quan niệm chung đă đề cập ở trên .
Ngày nay, lại có danh từ cách mạng nhung, cách mạng xanh, cách mạng hồng...để chỉ cho những cuộc biến chuyển, lật đổ nhưng không dùng bạo lực mà kết qủa vẫn thay đổi được bộ mặt cũ và đưa những sự hưng thịnh hơn .
Chính đảng cách mạng là một đảng chính trị có mục đích thực hiện công cuộc cách mạng, tức là thay đổi, biến hóa để đưa xă hội tiến đến chổ tốt đẹp hơn . Ngày nay cách mạng không c̣n có nghĩa là phải có bạo lực kèo theo . Nếu chỉ lật đổ để cướp chính quyền mà không có chương tŕnh, kế hoạch hành động thực tế nào có mục đích cải tiến xă hội th́ được gọi là đảo chánh, như các cuộc đảo chánh vào thập niên
60 ở miền Nam Việt Nam .
Chủ đích của cách mạng là thay đổi toàn diện hệ thống chính trị cũ để thay vào đó một hệ thống mới với mục đích đem lại ích lợi cho con người và xă hội . Do đó cách mạng bao giờ cũng xuất phát từ quần chúng, từ số đông người . Quần chúng là lực lượng, là sức mạnh của cách mạng .
Quần chúng chỉ là những thể nhân, những phần tử riêng lẻ . Muốn biến những phần tử riêng lẻ nầy thành một khối, một sức mạnh xuyên suốt, một lực lượng duy nhất th́ phải cần đến những tố nhân, những sức hút mới kết hợp lại được .
Những tố nhân, những sức hút đó đến từ các chính đảng cách mạng có một chủ thuyết trính trị đáp ứng lại nguyện vọng chung của quần chúng .
Chính đảng cách mạng là ḷ đào tạo nên sức mạnh, nên lực lượng cách mạng . Cán bộ của chánh đảng cách mạng hướng dẫn và điều khiển quần chúng thực hiện công cuộc cách mạng . Hàng ngũ cán bộ là hạt nhân, quần chúng là những vệ tinh bao quanh các hạt nhân đó .
Một đảng cách mạng có đông đảng viên chưa hẳn là một đảng mạnh . Gía trị
về sức mạnh của đảng phải được căn cứ vào sự tuân thủ các nguyên tắc trong hệ thống tổ chức, sự tuân thủ kỷ luật nội bộ, vào sự hành động duy nhất theo một mệnh lệnh duy nhất .
Đại Việt Quốc Dân Đảng
Ban Tuyên Huấn Trung Ương