CHÍNH ĐẢNG và CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG

  I. CHÍNH ĐẢNG

  Theo quan niệm của người xưa, những phần tử yếu nhược thường dựa dẫm vào nhau để hầu tạo nên sức mạnh, tạo nên nghị lực hoặc để thể thỏa măn vấn đề tâm lư nội tại . Đó là cách xoay xở, ứng phó của kẻ tiểu nhân . Trái lại, người quân tử có sẳn bản lĩnh, đủ tài năng nên không cần đến sự dựa dẫm ấy, và câu " Quân tử quần nhi bất đảng" là cách xử sự, là thái độ độ của họ trong các sinh hoạt xă hội . Tuy nhiên, người quân tử vẫn có sự hợp quần nhưng không phải là kết bè kết đảng như kẻ tiểu nhân .

  Hợp quần là qui luật tự nhiên, là phương tiện sinh tồn cho cả muôn loài . Sự khác biệt giữa sự hợp quần của kẻ tiểu nhân và người quân tử là, kẻ tiểu nhân kết tụ để thành bè đảng, băng đảng hay tà đảng và mục tiêu của băng đảng hay tà đảng th́ luôn luôn đi ngược lại quyền lợi chung của nhân quần - xă hội; c̣n sự hợp quần của người quân tử thường hướng đến những mục tiêu cao đẹp, như hổ tương nhau để sinh tồn hay đấu tranh cho sự sống c̣n, cho quyền lợi của Đất Nước và Dân Tộc, thực hiện một lư tưởng cao đẹp mà theo họ sẽ mang lại lợi ích cho xă hội . Tùy theo từng mục đích, từng lănh vực, từng nghề nghiệp, địa phương...mà có những sự kết hợp tương xứng . Thông thường th́ sự kết hợp ấy đều mang danh nghĩa các Hiệp Hội, Hội Đoàn, Cộng Đồng, Tập Đoàn... Trên b́nh diện chính trị th́ sự kết hợp bắt đầu bằng h́nh thức Phong Trào, Mặt trận, Liên Minh và h́nh thức cao nhất là CHÍNH ĐẢNG (Political Party) .
Chính đảng là một tập họp có mục đích chính trị, một tập thể cùng theo đuổi, thực thi một lư tưởng, một đường lối, một chủ nghĩa chính trị . Hay nói một cách khác, những thành viên trong cùng một chính đảng đều có chung một tín ngưỡng chính trị .

Ở Việt Nam vào thời Pháp mới xâm lăng, các phong trào Cần Vương, Văn Thân... là những tập hợp có mục đích chính trị nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại vương quyền cho nhà Nguyễn . Nối tiếp là thời kỳ của các hội kín . Hội kín là những tổ chức có mục đích chính trị nhưng chưa có chủ nghĩa, chưa có một hệ thống lư thuyết chính trị rơ ràng . Bắt đầu vào những năm cuối thập niên 20, h́nh thức chính đảng đă hiện rỏ . Bởi v́, những tập hợp, những tổ chức trong thời kỳ nầy đều phụng sự một chủ thuyết chính trị như: Việt Nam Quốc Dân Đảng với Chủ Nghĩa Tam Dân, Đông Dương Cộng Sản Đảng với Chủ Nghĩa Marx, Đại Việt Quốc Dân Đảng với Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn . Đến thập niên 40 lần lượt xuất hiện Đại Việt Duy Dân với Chủ Thuyết Duy Dân, Đại Việt Quốc Xă với lư thuyết Duy Trung Tam Vật, Đại Việt Dân Chính với lư thuyết chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường tam đúc kết...Hầu hết các lư thuyết, chủ nghĩa nêu trên đều dựa trên một căn bản triết học và đương nhiên đă có sẳn tính chất miên viễn, diên trường . Khác với những kết hợp của các Hội Đoàn, Mặt Trân, Liên Minh...chỉ có mục đích nhằm đáp ứng với nhu cầu của từng giai đoạn hay từng thời kỳ ngắn hạn, chính đảng là sự kết hợp có tính cách cán bộ, mang sắc thái của một tập đoàn cán bộ có cùng chung một chí hướng (danh từ Đồng Chí được dùng trong trường hợp nầy), tuyệt đối tôn trọng kỷ luật của tổ chức và được đào tạo - huấn luyện về chủ thuyết  cũng như lư tưởng mà đảng đang theo đuổi .
Đó là những tính chất của của các chính đảng ở chính trường Việt Nam, nói chung, và của Đại Việt Quốc Dân Đảng, nói riêng .
Nếu quan niệm về "chính đảng" như tŕnh bày ở trên, th́ Chủ Thuyết Chính Trị của các chính đảng ở Mỹ là ǵ ?

Đồng đảo người di dân đến từ Âu Châu đă mang theo tất cả những trào lưu tư tưởng mới của trời Âu, nhất là của John Locke . Tuyên Ngôn Độc lập và Hiến Pháp hoa Kỳ là sự kết hợp các tinh hoa từ những ḍng tư tưởng mới và tiến bộ của Tây Phương thời ấy . Những chủ thuyết chính trị vừa manh nha hay c̣n nằm dưới dạng một tiền đề triết học cũng được cẩn thận nghiên cứu để t́m ra được những tin hoa cốt lơi, tạo điều kiện cho ḥa nhập và thực thi tại Hoa Kỳ. Những chủ thuyết chính trị ở Âu Châu đă biến thành những mô h́nh hiện hữu trong Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp Mỹ . Do đó, nhu cầu chủ nghĩa, lư thuyết chính trị riêng rẻ cho từng chính đảng đă bị hóa giải v́ không c̣n cần thiết nữa . Nói một cách khác, nếu muốn t́m những ư niệm cao đẹp của John Locke, của Montesquieu , hay của Proudhon để đạt đến tinh thần xă hội bao dung, th́ hăy thực thi Hiến Pháp Hoa Kỳ . Trong một môi trường chính trị như vậy nên mục tiêu cho lư tưởng mà  các chính đảng theo đuổi là bảo vệ và thực thi Hiến Pháp Hoa Kỳ mà thôi .

II. CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG

Cách mạng, các nha cách mạng, chính trị ở Á Đông đều thỏa thuận với nhau về một định nghĩa chung cho danh từ Cách Mạng . Cách có nghĩa là cánh chim thay lông hoặc lông non của cách chim vừa mới mọc sau khi lông ǵa đă rụng . Mạng có nghĩa là thiên mạng, trong chế độ quân chủ th́ vua là người thừa thiên mạng để trị dân . Cách mạng có nghĩa chung là thay đổi lệnh của trời, tức là xóa bỏ vua . Nhưng theo nguyên nghĩa lông non được mọc ra trên cánh chim, sau khi lông ǵa đă rơi rụng, như vậy lông non phải là nguồn sinh lực mới, tất nhiên phải mạnh mẽ và tốt đẹp hơn . Cộng chung hai chữ, cách mạng có nghĩa là vua đă ǵa, lạc hậu, phải được thay thế bằng người trẻ th́ chế độ mới tốt đẹp và mạnh mẽ hơn . 
V́ vậy mà cuộc biến đổi ở nước Nhật đầu thế kỷ 20 tuy đă làm cho nước nhật trở nên giàu mạnh hơn nhưng Minh Trị Thiên Hoàng vẫn là vị vua của nước này, nên người đời đă gọi đó là một cuộc Duy Tân ở Á Châụ Ở Pháp năm 1779 và ở Trung Hoa năm 1911 là những cuộc cách mạng đầu tiên đúng nghĩa với định nghĩa Cách Mạng như quan niệm chung đă đề cập ở trên .

Ngày nay, lại có danh từ cách mạng nhung, cách mạng xanh, cách mạng hồng...để chỉ cho những cuộc biến chuyển, lật đổ nhưng không dùng bạo lực mà kết qủa vẫn thay đổi được bộ mặt cũ và đưa những sự hưng thịnh hơn .

Chính đảng cách mạng là một đảng chính trị có mục đích thực hiện công cuộc cách mạng, tức là thay đổi, biến hóa để đưa xă hội tiến đến chổ tốt đẹp hơn . Ngày nay cách mạng không c̣n có nghĩa là phải có bạo lực kèo theo . Nếu chỉ lật đổ để cướp chính quyền mà không có chương tŕnh, kế hoạch hành động thực tế nào có mục đích cải tiến xă hội th́ được gọi là đảo chánh, như các cuộc đảo chánh vào thập niên 60 ở miền Nam Việt Nam .
Chủ đích của cách mạng là thay đổi toàn diện hệ thống chính trị cũ để thay vào đó một hệ thống mới với mục đích đem lại ích lợi cho con người và xă hội . Do đó cách mạng bao giờ cũng xuất phát từ quần chúng, từ số đông người . Quần chúng là lực lượng, là sức mạnh của cách mạng .
Quần chúng chỉ là những thể nhân, những phần tử riêng lẻ . Muốn biến những phần tử riêng lẻ nầy thành một khối, một sức mạnh xuyên suốt, một lực lượng duy nhất th́ phải cần đến những tố nhân, những sức hút mới kết hợp lại được . Những tố nhân, những sức hút đó đến từ các chính đảng cách mạng có một chủ thuyết trính trị đáp ứng lại nguyện vọng chung của quần chúng .
Chính đảng cách mạng là ḷ đào tạo nên sức mạnh, nên lực lượng cách mạng . Cán bộ của chánh đảng cách mạng hướng dẫn và điều khiển quần chúng thực hiện công cuộc cách mạng . Hàng ngũ cán bộ là hạt nhân, quần chúng là những vệ tinh bao quanh các hạt nhân đó .

Một đảng cách mạng có đông đảng viên chưa hẳn là một đảng mạnh . Gía trị về sức mạnh của đảng phải được căn cứ vào sự tuân thủ các nguyên tắc trong hệ thống tổ chức, sự tuân thủ kỷ luật nội bộ, vào sự hành động duy nhất theo một mệnh lệnh duy nhất .


Đại Việt Quốc Dân Đảng
Ban Tuyên Huấn Trung Ương