|
Chuyện tôi muốn nói
đến hôm nay là cuộc Cải Cách Ruộng Đất
(CCRĐ) đầy kinh hoàng ở miền Bắc Việt
Nam, thảm họa khủng khiếp chưa từng
thấy trong lịch sử dân tộc. Cuộc CCRĐ
đă thực tế bắt đầu diễn ra
từ năm 1953, đúng 50 năm trước đây,
và kết thúc năm 1956. Nhưng dư âm và hậu
họa của nó vẫn c̣n măi cho đến tận
ngày nay. Hồi đó, CCRĐ chẳng khác nào một
trận băo táp ác liệt đổ ập xuống
miền Bắc Việt Nam gây ra biết bao tàn phá
khủng khiếp, biết bao đảo lộn kinh người,
biết bao tang tóc, đau thương cho người dân
lương thiện.
Xuất phát từ đâu mà trận băo táp ghê
rợn đó đă tràn đến cái xứ sở
đau thương này? Số là trong chuyến đi bí
mật của ông Hồ Chí Minh từ chiến khu
Việt Bắc (hồi cuối năm 1950) đến
Moskva (đầu năm 1951), ông đă gặp Stalin và
Mao Trạch Đông (lúc đó đang có mặt tại
Moskva). Hai ông này đă nhận xét là Đảng Việt
Nam coi nhẹ nhiệm vụ phản phong (ư nói hữu
khuynh), và chỉ thị phải tiến hành cách
mạng phản phong để “bồi dưỡng
động lực cách mạng là nông dân lao động”,
nói cụ thể là phải làm CCRĐ ở các vùng
gọi là “giải phóng”. Sau khi về nước,
ông Hồ đă cùng Thường vụ Trung ương
(Bộ chính trị sau này) ĐCS trong hai năm trời bí
mật và tích cực chuẩn bị tiến hành CCRĐ.
Chuẩn bị cả về mặt tư tưởng,
cả về mặt chính sách, đường lối,
lẫn về mặt tổ chức. Theo sự phân công
của Stalin, Trung Quốc sẽ giúp đỡ cho
Việt Nam, nên ông Hồ đă mời các đoàn
cố vấn Trung Quốc đến miền Bắc
Việt Nam - tổng cố vấn là La Quư Ba đồng
thời là đại sứ Bắc Kinh tại Việt
Nam dân chủ cộng ḥa (VNDCCH). Vi Quốc Thanh đứng
đầu đoàn cố vấn quân sự, c̣n đứng
đầu đoàn cố vấn CCRĐ là Kiều
Hiểu Quang, vốn là phó bí thư tỉnh ủy
Quảng Tây. Đó là chưa kể đủ loại
cố vấn khác, như cố vấn chỉnh
huấn, cố vấn công an, cố vấn tổ
chức, cố vấn tuyên truyền... Để
chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cán
bộ, đảng viên và quân đội, năm 1952,
Bộ chính trị (BCT) Trung ương (TW) Đảng
thực hiện “cuộc chỉnh huấn” trong Đảng
và “cuộc chỉnh quân” trong quân đội, theo
đúng mẫu mă “cuộc chỉnh phong” của ĐCS
Trung Quốc, chỉ có cái tên hơi khác một chút mà
thôi. Chuẩn bị về mặt tổ chức, BCT TW
đă thành lập Ủy ban CCRĐ Trung ương (UBCCRĐTW),
gồm có Trường Chinh, Tổng bí thư ĐLĐVN làm
chủ nhiệm, hai phó chủ nhiệm là Hoàng
Quốc Việt, ủy viên BCT và Lê Văn Lương,
ủy viên BCT, c̣n ủy viên thường trực là
Hồ Viết Thắng, ủy viên TW Đảng. Dưới
UBCCRĐTW là các đoàn CCRĐ, dưới các đoàn là các
đội CCRĐ. Cả một đạo quân hùng
hậu để làm “chiến dịch” đánh phong
kiến!
ĐCS coi CCRĐ là “một cuộc cách mạng long
trời lở đất”, cho nên cần phải “phóng
tay phát động quần chúng” để thực
hiện, có nghĩa là phải làm hết sức mănh
liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương
xót, cho dù có những hành động quá trớn, quá
tả cũng không đáng sợ. Nhiều lănh tụ
cộng sản thường nhấn mạnh ĐCS là
đảng cách mạng th́ nhất định
phải làm CCRĐ theo tinh thần “cách mạng”, “cách
mạng long trời lở đất”! Họ cao
ngạo phê phán các cuộc CCRĐ ḥa b́nh ở nhiều
nước là cải lương chủ nghĩa, tư
sản và phản cách mạng: v́ tại các nước
đó, chính quyền hạn định mức
ruộng đất tối đa cho điền chủ
được có, c̣n phần thừa th́ nhà nước
mua lại để chia cho người ít hay không có
ruộng đất. C̣n khi giải thích cho cán bộ
mấy chữ “phóng tay phát động quần chúng”
khó hiểu này, ông Hồ đă dùng h́nh ảnh
dễ hiểu sau: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng
ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu,
rồi thả tay ra th́ nó mới thẳng được.
H́nh như ông cũng khoái cái lối giải thích hóm
hỉnh ấy, không nghĩ rằng cái tinh thần
“quá đi một tí” sau này chính là mối họa
lớn cho dân! Các đội, các đoàn CCRĐ
được tung về nông thôn. Họ tung hoành
gần như với quyền hạn không hạn
chế, họ cảm thấy ḿnh nắm trong tay
quyền sinh quyền sát. Cấp trên đă “phóng tay”
cho họ và họ cũng tự “phóng tay”... V́
thế, trong dân gian thường nói “nhất đội,
nh́ Trời”, và các “anh đội” cũng khoái tai
khi nghe như thế! Tôi c̣n nhớ một lần,
thiếu tướng Vương Thừa Vũ, chủ
tịch ủy ban quân quản thành phố Hà Nội,
về quê thăm nhà ở làng Tó (Thanh Oai) thuộc
ngoại thành Hà Nội. Ông bị đội CCRĐ
bắt giữ cùng với anh cần vụ (lính
hầu) và xe ô tô, van xin ǵ cũng không được
thả ra. Về sau do một sự t́nh cờ, chính
quyền Hà Nội biết được mới cho người
đến nhận ông về. Đại thần của
chế độ mà c̣n bị như thế huống
hồ dân đen!
Trong năm 1952, BCT TW Đảng lao động Việt Nam
(ĐLĐVN), tức là ĐCS khoác tên mới từ năm
1951, cho làm thí điểm CCRĐ ở sáu xă thuộc
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Trong lần
thí điểm này có một sự kiện “động
trời”: ṭa án CCRĐ xử tử h́nh bà Nguyễn
Thị Năm, tức là Cát Thành Long, người mà
thời trước cách mạng đă từng che
giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông Trường
Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm
Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản... C̣n trong
Tuần lễ Vàng, gia đ́nh bà đă hiến 100
lạng vàng cho chính quyền mới. Bà đă hoạt
động trong Hội Phụ nữ, lại có con trai
đi bộ đội làm trung đoàn trưởng.
Thế mà bà đă bị quy là địa chủ cường
hào ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử h́nh, UBCCRĐ
TW duyệt y và BCT TƯ ĐLĐVN cũng chuẩn y!
Những người lănh đạo cộng sản
trong BCT và đứng đầu chính phủ đă
từng được bà che giấu, nuôi ăn,
tặng vàng, nay đang làm Chủ tịch nước,
Tổng bí thư, ủy viên BCT, Thủ tướng,
phó thủ tướng đă lạnh lùng chuẩn y
một cái án tử h́nh như vậy! Phát súng đầu
tiên của CCRĐ nổ vào đầu một người
phụ nữ yêu nước đă từng giúp đỡ
cho những người cộng sản! Phát súng đó
tự nó đă nói lên nhiều điều về các
lănh tụ cộng sản! Nó báo hiệu trước
những tai họa khôn lường cho toàn dân tộc!
Năm 1953, thực tế là năm bắt đầu
tiến hành CCRĐ, năm ĐCS chuẩn bị toàn bộ
đường lối, chính sách và “luật pháp hóa”
các chính sách của Đảng bằng quyết nghị
của Quốc hội, sắc lệnh và nghị định
của Chính phủ, thông tư của các bộ.
Dựa trên tài liệu chính thức của ĐCS, tôi xin
ghi lại những cái mốc lịch sử đau thương
của dân tộc ta trong cuộc CCRĐ đẫm máu và
nước mắt này:
— cuối tháng 01.1953 - hội nghị lần thứ tư
của TW ĐLĐVN để thông qua bản Dự
thảo cương lĩnh Đảng về chính sách
ruộng đất. Tại hội nghị, ông Hồ
đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ triệt
để giảm tô, tiến tới CCRĐ.
— đầu tháng 03.1953 - Hội đồng Chính
phủ họp thảo luận báo cáo của Phó
thủ tướng Phạm Văn Đồng về
mục đích, phương châm, kế hoạch phát
động quần chúng. Hội đồng Chính
phủ đă thông qua các văn bản về chính sách
ruộng đất và phát động quần chúng,
tức là đă “luật pháp hóa” nghị quyết
của TW Đảng.
— 01 - 05.03.1953 - báo Nhân Dân đăng tải bài
“Chỉnh đốn chi bộ” của ủy viên
Bộ chính trị ĐLĐVN, trưởng ban tổ
chức TW Lê Văn Lương, người trực
tiếp phụ trách cuộc Chỉnh đốn tổ
chức trong CCRĐ, và ngày 16.03.1953 - Chính phủ VNDCCH ra
thông tư về việc chỉnh đốn chính
quyền cấp xă qua việc phát động quần
chúng. Đây là những hướng dẫn cho việc
gắn liền cuộc Chỉnh đốn tổ
chức với CCRĐ, với tinh thần “không dựa
vào (thực tế là đánh vào - Người
viết) tổ chức cũ mà lập nên tổ
chức mới” ở nông thôn!- 12.04.1953 - Chính
phủ VNDCCH ra ba sắc lệnh: 1/ sắc lệnh quy
định chính sách ruộng đất, trong đó có
việc tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng
đất chia cho nông dân; 2/ sắc lệnh quy định
việc thành lập Ṭa án nhân dân ở những nơi
phát động quần chúng; 3/ sắc lệnh quy
định việc trừng trị những địa
chủ ở những nơi phát động quần chúng
tiến hành CCRĐ.
— 01.06.1953 - báo Nhân Dân đăng bài về Chương
tŕnh CCRĐ.
— Tháng 06.1953 - ĐLĐVN tổ chức cái gọi là “đợt
chỉnh huấn chính trị” để nâng cao
lập trường giai cấp cho cán bộ đảng
viên trong cuộc đấu tranh CCRĐ.- 14.11.1953 - hội
nghị lần thứ năm TW và Hội nghị toàn
quốc của ĐLĐVN để quyết định
tiến hành CCRĐ. Ông Hồ đă phát biểu ư
kiến tại hội nghị nhấn mạnh phải
“phóng tay phát động quần chúng tiến hành CCRĐ”.-
01-04.12.1953 - kỳ họp thứ ba của Quốc
hội khóa 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
báo cáo “T́nh h́nh trước mắt và nhiệm
vụ CCRĐ” và ngày 04.12.1953 - Quốc hội nhất
trí thông qua Luật CCRĐ. Sau đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đă ra sắc lệnh ban hành Luật
CCRĐ do Quốc hội thông qua.Từ đó, bắt
đầu các đợt CCRĐ, mà đợt đầu
tiến hành ở 47 xă tỉnh Thái Nguyên và 6 xă
tỉnh Thanh Hóa, sau đó lan tràn trên khắp miền
Bắc, trừ các vùng miền núi. Đợt năm là
đợt cuối cùng, phần lớn diễn ra
ở các xă đồng bằng Bắc bộ và các vùng
bị Pháp chiếm trước đây. May mắn cho
đồng bào miền núi, v́ ĐLĐVN (Đảng Lao Động
Việt Nam) chủ trương sau khi hoàn thành CCRĐ
ở vùng đồng bằng mới làm ở miền
núi. Do sự phẫn nộ của quầân chúng đă
bùng lên dữ dội, nhiều cuộc nổi dậy
của nông dân đă nổ ra ở Quỳnh Lưu, Phát
Diệm, nên về sau, TƯ/ĐLĐVN (Trung Ương Đảng
Lao Động Việt Nam) chỉ tiến hành cái gọi
là “cải cách dân chủ” ở miền núi, nghĩa
là dẹp bỏ phong kiến địa phương (tức
là các ph́a tạo) mà không dùng bạo lực quá
mạnh v́ sợ dân chúng chạy sang Trung Quốc, Lào...
C̣n ở huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị,
v́ nằm sát giới tuyến, tiếp giáp Việt Nam
Cộng ḥa, nên cũng được chiếu cố,
nghĩa là dùng bạo lực vừa phải “để
không gây ảnh hưởng xấu đến miền
Nam”.- tháng 09.1956 - hội nghị lần thứ 10
của TƯ/ ĐLĐVN kiểm điểm t́nh h́nh CCRĐ.
Do ảnh hưởng của đại hội lần
thứ 20 ĐCS Liên Xô vạch trần những tội ác
của Stalin, do sự bất măn trong dân chúng, cộng
thêm sự phản ứng khá mạnh của cán
bộ, Trung ương Đảng buộc phải
thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong
CCRĐ và chủ trương sửa sai. Tại hội
nghị, Trung Ương đă thi hành kỷ luật như
sau: Trường Chinh mất chức Tổng bí thư,
chỉ c̣n làm ủy viên BCT, c̣n Hoàng Quốc Việt
và Lê Văn Lương mất chức ủy viên BCT,
Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TƯ/
ĐLĐVN. Ông Hồ Chí Minh kiêm nhiệm Tổng bí thư,
c̣n Lê Duẩn làm bí thư Trung Ương, thường
trực BCT(Bộ Chính Trị)
— 29.10.1956 - mít tinh lớn tại Nhà Hát Nhân dân Hà
Nội, ủy viên BCT đại tướng Vơ Nguyên
Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW ĐLĐVN
chính thức công nhận những sai lầm nghiêm
trọng trong CCRĐ. Nhân đây, xin nói rơ: một vài người
viết không đúng là cuộc mít tinh tổ chức
tại sân vận động Hàng Đẫy và ông
Hồ đă đến dự và khóc trước dân
chúng. Hà Nội được giao cho việc tổ
chức mít tinh nên tôi biết rơ. Hồi đó, chúng
tôi được giải thích: “Bác đến không
tiện”, nhưng chúng tôi đều hiểu là ông
Hồ muốn đưa ông Giáp ra “chịu trận”
thay ḿnh, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước
dân chúng.
Phần II
Ở hải ngoại, cho đến nay cũng đă có
một số tài liệu nói đến những
bạo hành, những tội ác trong CCRĐ, cuốn sách nói
về đề tài này khá kỹ ra mắt sớm
nhất (1964, bằng tiếng Anh) là cuốn “Từ
Thực Dân Đến Cộng Sản” của ông Hoàng Văn
Chí. C̣n ở trong nước th́ đến nay, chưa
có một công tŕnh nghiêm túc nào nghiên cứu, chưa
ra một tiểu thuyết nào viết riêng về
đề tài CCRĐ. Tại sao? Dễ hiểu là sau khi
bị bắt buộc phải thừa nhận những
sai lầm trong CCRĐ, BCTTƯ Đảng ra lệnh
miệng tuyệt đối cấm không được
nói đến đề tài này. Người đầu
tiên “vi phạm” tabou thiêng liêng đó là nhà văn
Hà Minh Tuân - anh đă viết lướt qua rất
nhẹ nhàng đến đề tài cấm kỵ
đó trong tác phẩm “Vào Đời”. Tức th́
Nguyễn Chí Thanh hô hoán lên là “tư tưởng
địa chủ ngóc đầu dậy”, và anh
bị hành hạ hết nước. Từ đó
mọi người ai cũng im re, “lo giữ cái đội
nón của ḿnh” (nhóm từ thông dụng hồi đó
có nghĩa là giữ đầu ḿnh)... Măi sau này,
chỉ có vài nhà văn rụt rè mon men đến
đề tài đó mà thôi. Hy vọng rồi đây
sẽ có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước
vượt qua nỗi sợ “truyền kiếp”, dám
đề cập đến đề tài đau thương
này một cách nghiêm túc và toàn diện.
Nếu nói về những tội ác trong CCRĐ, theo tôi,
cần nêu bật mấy loại chính sau đây:
Thứ nhất
Tội tàn sát thường dân vô tội - tội ác
chống nhân loại
Người nông dân Việt Nam hiền ḥa, chất phác
đang làm ăn sinh sống và hết ḷng đóng góp
vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bỗng dưng
ĐCS giáng cho họ một đ̣n chí mạng. ĐCS nói
rằng CCRĐ là một cuộc cách mạng để
thực hiện ước mơ muôn đời
của nông dân: “Người cày có ruộng” - nhưng
thực tế th́ không phải như vậy, thực
tế là nông dân bị đánh đ̣n chí mạng!
Tầng lớp năng nổ, giỏi giang biết làm
ăn nhất ở nông thôn th́ bị quy là địa
chủ, phú nông, thậm chí cường hào ác bá,
bị triệt hạ hết đường sinh
sống, c̣n một loạt cán bộ ở nông thôn
đă từng chịu đựng gian khổ làm
nhiệm vụ lănh đạo kháng chiến, sản
xuất th́ bỗng nhiên bị quy là phản động,
gián điệp, Việt gian, v.v... bị trừng
trị, nhiều người bị bắn giết vô
cùng man rợ. Ngay cả nhiều người trung nông,
thậm chí một số bần nông cũng “bị kích
lên” làm địa chủ cho đủ cái tỷ
lệ quái gở 5% địa chủ (so với dân
số thôn xă!) và họ phải cam chịu cái số
phận mà ĐCS dành cho địa chủ. Cái tỷ
lệ quái gở 5% đó lại kèm thêm những
“kết luận” quái đản khác: Đă có địa
chủ, tất phải có cường hào ác bá!
Thế là người dân chịu chết! Biết bao
nỗi oan khuất không thể nào kể hết. Cái
phương châm “thà sai hơn là bỏ sót”,
cộng thêm với việc “thi đua lập thành tích
đánh phong kiến” đă gây ra t́nh trạng “kích
thanh phần”, “nống thành tích” cố t́m ra
nhiều địa chủ, phản động, xử
tử nhiều ác bá... để có được
bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa
vị cao hơn... càng làm cho nỗi khổ đau
của người dân tăng lên nhiều gấp
bội! Chỉ xin dẫn vài chuyện mà thôi.
Một anh bạn đi làm CCRĐ ở Khu Bốn kể
lại. Ở Khu Bốn, hồi đó ai cũng
biết danh Chu Văn Biên, bí thư Khu ủy, và Đặng
Thí, phó bí thư khu ủy, khét tiếng hiếu sát
trong CCRĐ, họ đều là trưởng và phó đoàn
CCRĐ. Thậm chí trong dân gian lưu truyền bài vè có
câu “Giết người nổi tiếng gă Chu Biên”.
Anh bạn tôi kể chuyện Đặng Thí kư hai án
tử h́nh trên ghi đông (guidon) xe đạp!
Chuyện như sau: Một đội tới làm CCRĐ
ở một xă nghèo ở Nghệ An, quê hương
của ông Hồ Chí Minh và Hồ Viết Thắng, t́m
măi mà không thể quy ai là địa chủ được
(những ai đă từng đến tỉnh này đều
biết cảnh nghèo chung của dân chúng ở đây).
Đặng Thí “đả thông tư tưởng” là
cố vấn Trung Quốc dạy rồi phải có 5%
địa chủ. Đội sợ trên “đ́”, tính
ra cả làng từng này hộ, từng ấy nhân
khẩu, thôi th́ cũng buộc phải kiếm ra năm
địa chủ. Tưởng thế là xong, nào
ngờ khi báo cáo lại cho Đặng Thí th́... Liếc
mắt qua không thấy có danh sách “lên thớt”,
bực ḿnh Thí mới xạc cho “anh đội”
một trận: “Có địa chủ mà không bắn
thằng nào cả à?” và ném cả tập giấy vào
mặt đội trưởng. Cuối cùng th́ đội
cũng lọc ra được “hai địa
chủ để bắn” vội chạy lên đoàn
báo cáo. Giữa đường gặp Đặng Thí
đang đi xe đạp, tay đội trưởng
đưa báo cáo và danh sách bắn hai người. Thí
c̣n đang vội, vẫn ngồi trên yên xe, chẳng
thèm xem hết nội dung, đặt “đơn đề
nghị bắn hai người” lên ghi đông xe đạp,
mở vội xà cột (sacoche), rút bút kư toẹt vào.
Xong rồi Thí đạp xe đi thẳng.
Một ông bạn làm việc ở Viện Khoa học
Việt Nam đă đi làm CCRĐ kể lại chuyện
thương tâm này. Đội mà ông bạn có chân
về một làng nghèo ở Thái B́nh, không thể nào
t́m đâu ra đủ số địa chủ, và cũng
không thể nào t́m ra địa chủ ác bá để
bắn. Họ lo lắm. Thế là họ đưa
một ông chăn vịt vào danh sách bị bắn! Làng
nào cũng thế thôi, mấy ông “gột vịt” (ấp
trứng nuôi vịt con) chẳng bao giờ được
dân làng ưa cả, v́ lùa vịt con xơi thóc lúa
của dân, thế mà lại hay to mồm căi lại, gây
gổ. Thế là “đủ yếu tố cấu thành
tội”, trong đó có tội “bị dân làng ghét
cay ghét đắng”. Địa chủ bóc lột thóc
của nông dân, vịt cũng ăn cướp thóc
của nông dân, vịt không thể bắn được
th́ chủ nó phải chịu thay! Ai cũng vui vẻ
cả. Ông bạn biết là sai nhưng không dám
mở miệng khi “cổ máy nghiền thịt”
của Đảng đă khởi động rồi!
Cho đến nay, không ai biết số người
bị quy oan, bị tù oan và bị giết oan là bao nhiêu
v́ ĐCS giấu tịt. Những con số mà nhiều người
đưa ra chỉ là ước đoán. Hồi
cuối năm 1956, khi tôi được Thành ủy Hà
Nội giao cho trách nhiệm sửa sai CCRĐ ở
ngoại thành Hà Nội. V́ tính chất quan trọng
của việc đó ở thủ đô, nên ông Vơ
Nguyên Giáp được BCT phân công giúp đỡ
việc sửa sai ở Hà Nội. V́ thế, thỉnh
thoảng tôi đến nhà ông Giáp làm việc. Đôi
khi chúng tôi cũng nói chuyện với nhau về
những vấn đề chung. Một hôm tôi hỏi
thẳng ông: Trong CCRĐ có bao nhiêu người bị oan.
Ông Giáp nói hai vạn. Lúc đó tôi không dám hỏi thêm
cụ thể hơn - thế th́ bao nhiêu người
bị chết oan, v́ tôi biết là ḿnh đă đụng
đến vấn đề cấm kỵ nhất
của Đảng. Cho đến nay, tôi không biết con
số mà ông Giáp nói với tôi có thật hay không, nhưng
hôm đó ông trả lời tôi tức th́, không nghĩ
ngợi ǵ, nên tôi cũng có phần tin. C̣n số người
bị hành quyết trong CCRĐ và Chỉnh đốn
tổ chức th́ tôi ước đoán là chừng năm-sáu
ngh́n người. Đó là chưa kể nhiều người
bị chết v́ các lư do khác, như tự tử trước
khi xét xử, chết khi bị tra của hay bị giam
cầm ở xă, chết trong tù, người nhà địa
chủ chết đói do bị bao vây, v.v... Tại
cuộc mít tinh tối 29.10.1956, ông Vơ Nguyên Giáp
chỉ cho biết con số 12 ngh́n cán bộ và đảng
viên đă được trả tự do mà thôi! Con
số đó đúng hay không, ai mà biết được!
Tóm lại, những con số về người
bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác
định được. Dù thế chăng nữa,
với những con số ước tính đă cho
thấy đây là một tội ác tày trời.
Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại!
C̣n chuyện “sửa sai” th́ cũng chỉ là
một lối “tung hỏa mù” chủ yếu để
làm dịu đi phần nào nỗi công phẫn dữ
dội của dân chúng, tránh những cuộc bùng
nổ bất lợi cho Đảng mà thôi. Chúng tôi đă
từng đi làm sửa sai nên biết khá rơ. Có
nhiều cái sai không thể nào “sửa” được.
Bắn giết người ta, làm què quặt thân
thể, làm tổn hại tâm thần người ta (có
không ít người bị điên, bị mất trí,
bị lẩn thẩn), làm gia đ́nh người ta
tan vỡ... th́ chỉ có Trời mới sửa
được! Ngay cả những việc tưởng
chừng không khó sửa lắm, nhưng cũng không
thể sửa nổi, chẳng hạn, gia đ́nh
bị quy là địa chủ, nhà cửa bị
tịch thu chia cho mấy hộ nông dân, khi được
xét là quy oan phải trả lại nhà cho người
chủ cũ. Nhưng, khi biết là phải trả
lại nhà, các ông bà nông dân bèn cạy gạch,
cạy cửa, dỡ ngói, rút rui mè, cất giấu
hết, phá phách gần như tan nát cả ngôi nhà
họ đang ở. Nên cái nhà được trả
lại đâu c̣n nguyên vẹn như trước. C̣n
các “quả thực” khác khi đă chia rồi th́
sửa sai làm sao được! Thóc lúa, nông dân ăn
hết, bán hết rồi (hoặc khai như thế),
nông cụ bị tiêu tán hết (hoặc khai hư
hỏng rồi), th́ lấy ǵ mà trả lại cho người
ta. Đó là không nói đến những quan hệ t́nh
cảm đă bị tổn thương, giữa
vợ chồng, giữa anh em, giữa họ hàng,
giữa thầy tṛ, giữa hàng xóm, láng giềng th́
chẳng làm ǵ được, ngoài việc khuyên
nhủ chung chung. Trong sửa sai chỉ có việc này làm
được là trả tự do cho những người
bị tù oan. C̣n việc khôi phục lại chức
vụ cho một số cán bộ đă bị đấu
tố cũng đă thực hiện, nhưng cũng không
giản đơn v́ quan hệ khá phức tạp
giữa cán bộ mới với cán bộ cũ.
Nhân thể cũng xin nói thêm, khi hội nghị
lần thứ 10 của TƯ ĐLĐVN hồi tháng 09.1956,
TƯ buộc phải thừa nhận những sai
lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, người ta cũng
đổ lỗi một phần cho cấp dưới
đă thi hành sai, chứ TƯ Đảng không nghiêm
khắc tự phê phán ḿnh, họ vẫn coi “đường
lối của TƯ về cơ bản là đúng”,
chỉ có “việc tổ chức thực hiện không
đúng” mà thôi. Họ vẫn khư khư khẳng
định: CCRĐ dù có sai lầm “nhưng về cơ
bản vẫn giành được thắng lợi
lớn”. Điều đó nói lên sự giả dối,
ngụy biện, sự không thực ḷng hối
hận của họ. Thế th́ làm sao mà Đảng
sửa sai được?! C̣n cái gọi là thi hành
kỷ luật với các ông lănh đạo CCRĐ cũng
chỉ là tṛ hề “giơ cao đánh khẽ” để
lừa dối dư luận mà thôi. Trường Chinh
mất ghế Tổng bí thư, nhưng lại
vẫn là ủy viên BCT, chuyển sang ngồi ghế
Chủ tịch Quốc hội, lại phụ trách công
tác tư tưởng, rồi chính ông ta đă cùng
Tố Hữu bày ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm đàn
áp quyết liệt anh chị em trí thức ưu tú,
khao khát tự do, làm bao văn nghệ sĩ tài ba
bị tù dày, bị đàn áp, bị treo bút trong hàng
mấy chục năm trời, đánh một đ̣n
nặng nề vào nền văn học miền Bắc,
làm nó bị thui chột trong nhiều thập niên. Hoàng
Quốc Việt (một người nổi tiếng
“ác liệt nhất” chẳng những trong CCRĐ mà
trong nhiều vụ trước nữa, chẳng
hạn, vụ H122 xảy ra trong kháng chiến chống
Pháp, ông phụ trách xét vụ này, đă bắt giam
nhiều cán bộ, phần đông là cán bộ quân
đội, và làm chết oan nhiều người),
bị đưa ra khỏi BCT th́ lại trao chức
vụ Viện trưởng Viện kiểm sát tối
cao là chức vụ nắm quyền sinh quyền sát
con người, Lê Văn Lương chịu trách
nhiệm về Chỉnh đốn tổ chức đă
làm cho nhiều cán bộ đảng viên ở xă
bị bắn giết, bị tù đày, phải ra
khỏi BCT th́ sau này lại được đưa
về làm bí thư Thành ủy Hà Nội, c̣n Hồ
Viết Thắng bị đưa ra khỏi TƯ Đảng
th́ lại cho làm ủy viên thường trực
Ủy ban Kế hoạch nhà nước! Trái lại,
người ngoài Đảng mà dám thẳng thắn phát
biểu ư kiến với ĐCS, cho dù nhẹ nhàng chăng
nữa, như trường hợp luật sư
Nguyễn Mạnh Tường đọc bài tham
luận tại hội nghị Mặt trận Tổ
quốc phê phán cuộc CCRĐ và đưa ra những
đề nghị hợp lư th́ Đảng trù dập ông,
dồn ông vào cảnh khốn cùng cho đến
chết! Và thử hỏi có bao giờ TƯ Đảng
thành thực sám hối về những sai lầm,
những tội ác của ḿnh hay không?
Chẳng những không sám hối mà cả cho đến
ngày nay, ĐCS vẫn cứ nói lấy được là
CCRĐ đă giành được thắng lợi lớn:
“Thực hiện ước mơ ngh́n đời”
của nông dân - đem lại ruộng đất cho
người cày. Đây là một sự dối trá
trắng trợn. V́ ruộng đất nông dân
được chia th́ một phần đáng kể là
của những người bị quy oan, khi sửa sai
cuối cùng phải trả lại. Phần ruộng
đất chia c̣n trong tay nông dân, họ chưa
kịp được hưởng ǵ trên mảnh
đất được chia đó th́ năm 1957-1958,
ĐCS đă bắt đầu lùa họ vào hợp tác xă
để tập thể hóa nông nghiệp, nghĩa là
họ không c̣n làm chủ ruộng đất của
họ! Vả lại, xét cho cùng, “đem lại
ruộng đất cho người cày” đâu có
phải là mối quan tâm chính yếu hay là mục
đích tối hậu của Đảng? Cho nên đến
khi sửa đổi Hiến pháp sau ngày thống
nhất đất nước, bằng một điều
khoản mới trong Hiến pháp, Đảng đă
nhẹ nhàng quốc hữu hóa toàn bộ ruộng
đất trong cả nước! Thế th́ làm sao có
thể nói là Đảng “đem lại ruộng đất
cho người cày” được?! Quả thật là
người nông dân chịu bao nhiêu đau thương
tang tóc cuối cùng chẳng được ǵ cả!
Thứ hai
Tội phá hoại truyền thống tốt đẹp
mấy ngh́n năm của dân tộc
Truyền thống hiếu ḥa, thương yêu, đùm
bọc lẫn nhau ở nông thôn Việt Nam được
dân tộc ta xây dựng hàng ngh́n năm đă bị
ĐCS phá vỡ trong ṿng ba-bốn năm CCRĐ. Nếu ai
đă từng sống ở nông thôn Việt Nam trước
“cách mạng”, trước CCRĐ đều cảm
nhận cái tinh thần “đùm bọc nhau”, “lá lành
đùm lá rách” c̣n khá đậm đà trong mối
quan hệ giữa người với người.
Cố nhiên, không ai nói là ở các làng quê không có
những kẻ bóc lột, nhưng tinh thần chung
ở nông thôn ta là như vậy. Với cái chính sách
“phân định thành phần giai cấp”, ĐCS chia cư
dân nông thôn thành cố nông, bần nông, trung nông (có
ba loại, trung nông yếu, trung nông vừa, trung nông
cứng), phú nông (có hai loại, phú nông thường,
phú nông ngấp nghé địa chủ - đây là “sáng
kiến” của người chấp hành để
khi cần th́ dễ “kích” họ lên địa
chủ, chứ trong chính sách th́ không chia ra), địa
chủ (có mấy loại, địa chủ yêu nước
và kháng chiến, địa chủ thường, địa
chủ cường hào ác bá, địa chủ
phản động). Sự phân chia có vẻ “khoa
học” lắm, nhưng khi thực hiện th́
tất cả đều do cảm tính chủ quan, do
nhu cầu của “đội” (khi trên bắt
phải đủ 5% địa chủ, bắt phải
có ác bá, phản động để bắn, th́
cứ phải “kích” lên cho đủ số), do ư
muốn chủ quan của “ông đội” (nhiều
khi ư muốn đó rất quái đản, thấy thái
độ của đương sự có vẻ ngang bướng
th́ cứ “kích” lên cho bơ ghét). Về nguyên tắc,
muốn phân định thành phần th́ phải
“tố khổ”, phải “tố” nhau, vạch nhau
ra để “xếp” thành phần. Với lối xúi
giục, cưỡng ép người dân tố giác
lẫn nhau rất phổ biến trong CCRĐ, nên từ
đó họ chia rẽ nhau, thù ghét nhau.
Cũng có nhiều người lúc đầu không
muốn “tố” ai hết v́ không muốn làm trái lương
tâm, nhưng ai không chịu “tố” th́ bị đội
CCRĐ coi là chưa “dứt khoát”, “có liên quan”, v.v...
cuối cùng th́ ai cũng tham gia vào cuộc “tố”
lẫn nhau để giữ mạng ḿnh. Đây là
số đông. Nhưng cũng có không ít những
kẻ hoặc v́ tư thù, hoặc v́ muốn trục
lợi, “tố điêu”, “tố láo” để
ngoi lên làm “rễ”, làm “cốt cán”, làm cán
bộ, để được chia “quả thực”
nhiều hơn. Mà thường cái đám người
này nghèo túng v́ lười biếng, v́ rượu chè,
cờ bạc, có khi là những phần tử lưu
manh, nhưng thường lại được đội
coi như là bần cố nông để dựa, o
bế, sử dụng nhằm... hoàn thành nhiệm
vụ của đội. Một điều kỳ quái
cần nói nữa là: Mọi lời “tố” của
nông dân đều không cần bằng chứng, hơn
nữa mọi lời “tố” của họ đều
được coi là bằng chứng, đều
được ghi vào hồ sơ tội trạng! Không
cần có bất cứ một sự kiểm chứng
nào hết! “Lư luận” chung hồi đó là
“phải tin tưởng ở quần chúng”, “nông
dân lao động đă nói là đúng”.
Thế là không c̣n ai căi được nữa! Chính v́
thế, khi đội cần “đánh vào” bí thư
hay chủ tịch ủy ban kháng chiến trước
ở vùng tạm bị chiếm, nay bị coi là
tổ chức cũ, mà có một ai đó “tố”
là “chúng nó họp Quốc Dân Đảng” th́ bị
“lên hồ sơ” ngay là “bí thư Quốc Dân Đảng”,
và anh ta khó tránh khỏi cái án tử h́nh! Một nông
dân “tố” một người bị “kích” lên
địa chủ là “hồi kháng chiến, khi máy bay
địch tới, tôi thấy hắn nh́n lên trời
và chỉ trỏ cái ǵ đó”, tức th́ bị quy
ngay là “gián điệp” và số phận anh ta coi như
là “đi đứt”! Có thể là thế hệ
mới lớn lên, nhất là những người
đang sống ở các nước dân chủ tiên
tiến, th́ khó mà tin là đă có những chuyện như
thế. Khốn thay đó lại là sự thật
đắng cay đă từng xảy ra trong lịch
sử nước nhà!
Tóm lại, CCRĐ làm cho nội bộ nông dân chia rẽ
trầm trọng, làng xóm đảo lộn lung tung! Đến
khi ĐCS tuyên bố sửa sai th́ t́nh h́nh nông thôn
lại cực kỳ hỗn loạn: Những vụ
ẩu đả, đâm chém, trả thù nhau giữa
những người bị “tố oan” với
những kẻ “tố điêu”, giữa những người
bị tước đoạt tài sản với
những người được hưởng
“quả thực”, giữa cán bộ cũ bị quy
kết phản động và bị tù tội với
cán bộ mới “ngoi lên” trong CCRĐ... Di sản ngh́n
năm rất đáng quư mà cha ông ta đă để
lại là tinh thần đùm bọc, ḥa hiếu nhau
của người dân nông thôn miền Bắc đă
bị phá hủy từ ngày CCRĐ. Lẽ nào đó không
phải là một tội ác?
Thứ ba
Tội phá hoại đạo lư, luân thường
của dân tộc. Trong lịch sử dân tộc
Việt Nam chưa bao giờ đạo lư làm người
bị đảo điên một cách quái đản như
trong CCRĐ
Các đội CCRĐ không từ một cách nào hết
để “t́m ra địa chủ”, “t́m ra
phản động”, “t́m ra của ch́m”, họ ép
buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu
“đấu tố” bố mẹ chồng, con rể
“đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu
tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn
nhau, tṛ “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn
“đấu tố” người đă làm ơn, láng
giềng hàng xóm “đấu tố” lẫn nhau! (Cũng
có trường hợp cha mẹ bấm bụng khuyên
con cái “đấu tố” ḿnh để mong cứu
mạng cho con cái). Thật là một tấn bi kịch
hăi hùng! Những người bị quy là địa
chủ ngay lập tức bị tước mọi
quyền làm người, bị hạ nhục, bị
chà đạp, ngay lập tức phải thay đổi
cách xưng hô trước nông dân, phải cúi đầu
lễ phép “thưa các ông, các bà nông dân”, phải
xưng “con” trước mặt nông dân, dù đó
chỉ là một đứa trẻ con. C̣n nông dân th́
tha hồ gọi người kia là “thằng kia”,
“mụ kia”, “con kia”, là “mày”, “chúng bay” và
tự xưng là “tao”, “chúng tao”, thậm chí có
thể chửi mắng, xỉ vả. Chẳng ai dám làm
trái lại cái “lệ mới” đó - đội
tuyên bố phải đối xử như thế
mới “nâng cao uy thế nông dân”, mới “đánh
gục giai cấp địa chủ” được!
Không làm thế là “bênh địa chủ”,
“mất lập trường giai cấp”, thậm chí
“có liên quan với địa chủ”! Ngay cả
đứa bé con cũng có thể mắng mỏ,
sỉ nhục người lớn đă bị quy là
địa chủ. Những người này, dù là
thứ bậc thế nào trong họ tộc cũng
đều bị bà con họ tộc xa lánh, để
không “bị liên quan”. C̣n khi hành quyết người
bị án tử h́nh th́ những người thân thích,
ruột thịt của người ấy, từ già
cả cho đến trẻ con, đều bắt
buộc phải có mặt để chứng kiến
tận mắt cảnh tượng đó! Đúng là
sự khủng bố tinh thần cực kỳ vô nhân
đạo!
Một t́nh trạng thương tâm nữa là
nhiều gia đ́nh ở nông thôn (và cả ở thành
phố có liên hệ với nông thôn) đă tan vỡ,
con cái bơ vơ, v́ khi một trong hai người có
gia đ́nh bị quy (hoặc bị kích lên) thành
phần địa chủ, bị gán tội phản
động, th́ bên kia, tức là vợ hay chồng,
sợ liên lụy phải bỏ nhau. Nhiều người
đi lập gia đ́nh khác, có con hoặc chưa có
con với chồng hay vợ mới. Đến sau này
thấy sai, người bị bắt đi tù nay
được trở về, thế là bao nhiêu
chuyện rắc rối xảy ra đến nỗi
Bộ tư pháp VNDCCH phải ra thông tư ngày
19.04.1956 để “giải quyết những vụ
vợ chồng bỏ nhau”. Thật là mỉa mai, người
ta cho rằng có thể hàn gắn được t́nh
cảm yêu thương trong gia đ́nh đă bị thương
tổn nặng nề bằng một tờ thông tư
vô hồn của Bộ Tư Pháp! T́nh yêu của nam
nữ cũng bị xâm phạm nghiêm trọng
giống hệt như thế - để giữ
lập trường giai cấp ai cũng phải
cắt đứt với người yêu thuộc thành
phần địa chủ, phản động!
Đây cũng là một nét về đạo đức
nữa cần phải nói đến. Chưa bao
giờ sự giả dối trắng trợn được
đề cao như trong CCRĐ. Chẳng cần phải nói
tới việc các “anh đội”, “chị đội”
báo cáo láo cho đoàn, v́ nó quá thường, mà cái
cần vạch ra ở đây chính là người ta
ép buộc, khuyến khích người nông dân nói
dối, làm láo. Dần dà rồi người nông dân
cũng thấy cần phải nói dối, làm láo để
“qua khỏi cái đận CCRĐ”, họ cũng
“tố bậy”, “tố điêu” dù trong thâm tâm
biết ḿnh đang nói dối, vu khống. Cũng có
người cố giữ lương tâm trong sạch,
nhưng thường họ phải trả giá đắt
cho điều đó. Cho nên cơn dịch dối trá
cứ lan tràn. Đội cũng dạy thêm cho nông dân
quen làm những việc giả dối, chẳng
hạn như dặn họ: Khi thấy trên màn ảnh
xuất hiện h́nh địa chủ th́ phải hô
“đả đảo”, hay vừa hô vừa ném
đá vào h́nh địa chủ để tỏ ḷng
uất hận của ḿnh. Thế là nông dân cũng làm
theo. Tất nhiên, cũng không loại trừ cái
hiện tượng gọi là “tâm lư đám đông”,
khi người ta hành động như trong một cơn
lên đồng tập thể. Chẳng hạn, mỗi
lần chiếu phim “Bạch Mao Nữ” của Trung
Quốc, th́ có nhiều người khóc nức nở,
và khi xuất hiện h́nh địa chủ là bên dưới
ào ào ném đá vào màn ảnh. Chính v́ thế, các
diễn viên kịch thường từ chối lên sân
khấu đóng vai địa chủ v́ sợ vỡ
đầu sứt trán.
Chủ trương của UBCCRĐTƯ là trong các
cuộc đấu địa chủ, nhất là địa
chủ cường hào ác bá đều phải
chuẩn bị rất chu đáo để ra “đấu
trường” không được vấp váp. Thế
là trước ngày đấu, mọi “rễ”, “chuỗi”,
dân quân, công an, ṭa án, chủ tịch đoàn... đều
phải “diễn tập” như thật, ai lên “đấu”
trước, ai lên “đấu” sau, “tố”
thế nào, xỉa xói ra sao, nói ǵ, khi nào người
“tố” phải cảm động khóc lóc, khi nào
người dân phải hô “đả đảo” (khi
người bị “tố” không nhận tội...),
lúc nào th́ bắt địa chủ quỳ (quỳ là
biểu hiện của sự “bị đánh gục”!),
lúc nào th́ “hoan hô” (khi ṭa tuyên án tử h́nh,
tịch thu tài sản...) Chủ tịch đoàn
những cuộc đấu lớn đều là “rễ”,
“chuỗi”, cốt cán mới đào tạo trong vài
tháng, nói năng ngượng nghịu, lúng ta lúng túng,
điều khiển thế nào nổi, nên khi ra “đấu
trường”, thường “anh đội”,
“chị đội” phải ngồi sau lưng
nhắc, như người nhắc tuồng (souffleur)
ở rạp hát! Cũng có khi nhắc măi không
được, chủ tịch đoàn cuống lên, th́
“anh đội” giật micro và điều khiển
luôn. Tóm lại, một sự diễn kịch, một
tṛ giả dối lố bịch, trắng trợn, mà
không hề không biết ngượng! Nhưng cái nguy
hại chính là sự giả dối đó cứ
thấm dần vào tiềm thức cán bộ và người
dân, tạo nên một nếp sống giả dối vô
đạo đức của nhiều người!
Thứ tư
Tội phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóa
của dân tộc. Bằng cuộc CCRĐ, ĐCS cố t́nh
triệt hạ các tôn giáo và truyền thống tâm
linh của dân tộc
Trước CCRĐ, các nhà thờ Thiên chúa giáo, các tu
viện, nhà cô nhi... đều có ruộng đất
riêng, các Chùa có ruộng hậu do tín chủ cúng cho
Chùa, các Nhà Thờ họ có ruộng họ, các đ́nh
có ruộng làng... để lo việc sửa sang, tu
bổ Nhà Thờ, Chùa, đ́nh, cúng tế hàng năm,
việc từ thiện, v.v... và để nuôi sống
các linh mục, tu sĩ, tăng ni và những người
chuyên lo việc trông nom, thờ phụng... Nhờ
thế hoạt động tôn giáo, tâm linh, từ
thiện được tiến hành b́nh thường
không có trở ngại. Nhưng với chính sách CCRĐ
của ĐCS, tất cả các ruộng đất đó
đều nhất loạt bị coi là ruộng đất
phong kiến và bị trưng thu để chia cho nông
dân. Với cái đ̣n độc địa đó,
tất cả các Nhà Thờ, Tu viện, nhà cô nhi, Chùa
chiền, điện thờ, miếu mạo, nhà
thờ họ, đ́nh... đều trở nên điêu
đứng và đần dần tàn tạ. Riêng đối
với Nhà Thờ Thiên chúa giáo, do phong trào giáo dân
ồ ạt di cư vào Nam, nên về sau Đảng đă
phải để lại cho các Nhà Thờ một ít
ruộng đất. Người ta công nhiên dùng các cơ
sở thờ cúng vào việc họp hành, đóng quân,
làm hội trường, làm kho hợp tác xă mua bán,
kho hợp tác xă sản xuất, v.v... Có nơi
thậm chí người ta cho các tượng Phật
trôi sông. Nhiều nơi bà con tín đồ bí mật
cứu các tượng Phật, đem chôn, đem
giấu hầm kín, sau này phần lớn các tượng
gỗ đều mục nát, thế nhưng cũng có
ít tượng c̣n giữ được, vào thập
niên 80 bà con mới đưa lại vào Chùa. Tóm
lại, cuộc sống tâm linh hoàn toàn bị xóa
bỏ. Chữ “thiện”, chữ “nhân” một
thời gian dài chẳng ai dám nói đến, v́
giữa lúc cái ác tràn đầy mà nói đến
chữ “thiện”, chữ “nhân” th́ có thể
bị coi là biểu hiện sự phản đối!
Trong lúc đó, người ta lại đề cao
bạo lực, cổ vũ đấu tranh giai cấp,
khuyến khích điều ác, điều bất nhân,
điều vô đạo. Một điều rất quái
dị trong CCRĐ mà ĐCS lại coi là tự nhiên hoặc
là cần thiết: người ta thường xuyên
huy động các cháu thiếu niên từ 9-10 tuổi
trở lên tham gia CCRĐ. Bắt chúng mang trống ếch
đi cổ động, đi “đả đảo”,
“hoan hô”, tham dự các cuộc đấu tố, các
phiên ṭa CCRĐ, các buổi hành quyết công khai.
Nhiều cháu, nhất là các cháu gái, vốn có tâm lư
hiền lành bị bắt buộc phải tham gia, đă
không chịu nổi, run sợ, khiếp đảm, có
cháu ngất xỉu trước cảnh hăi hùng, súng
bắn, máu đổ... C̣n các cháu vốn có tâm lư
hung dữ th́ lại thích thú hoan hô, thậm chí sau khi
“được” tham dự những cảnh tượng
đó, có nơi chúng lại bày tṛ chơi “đấu
tố”, bắt con cái địa chủ quỳ để
con cái nông dân lên đấu, cũng xỉa xói vào
mặt, cũng xỉ vả, vạch tội...
Chẳng biết có ai xúi giục không, nhưng
nhiều nơi đă xảy ra những “tṛ chơi”
quái đản đó! Khi cái thiện bị nén
xuống mà cái ác được cổ vũ, th́
chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên là đạo đức
bị suy đồi, băng hoại dưới
chế độ của những người cộng
sản. Tôi c̣n nhớ trong thời kỳ “cởi trói”,
đă được đọc truyện ngắn “Bước
Qua Lời Nguyền” của Tạ Duyên Anh đăng
trên tuần báo “Văn Nghệ” (1989) ở Hà
Nội, truyện đó phản ánh phần nào tấn
bi kịch của giới trẻ nông thôn đă
lớn lên trong và sau cuộc CCRĐ đầy kinh hoàng.
Không những CCRĐ đánh một đ̣n rất
mạnh vào nền đạo lư và truyền thống
nhân bản, mà nền văn hóa dân tộc cũng v́
nó mà bị tổn hại rất nặng nề.
Nhiều miếu đền uy nghiêm bề thế,
nhiều bia đá là những di tích văn hóa lâu
đời của dân tộc đă bị hủy
hoại trong CCRĐ. ĐCS giấu kín những chuyện này,
nhưng cũng có thể nêu ra vài trường
hợp. Mong rằng các bạn xa gần, trong và ngoài nước
sưu tầm và bổ sung thêm. Chẳng hạn,
cụ Nguyễn Mai (1876-1954) là hậu duệ đời
thứ 14 của ḍng họ Nguyễn Tiên Điền,
gọi thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đời thứ 11
là bác. Đầu năm 1954, lúc 78 tuổi cụ bị
đội và đoàn CCRĐ quy là địa chủ (v́
có vài mẫu cho phát canh để sống) lại
bị “kích” lên thành phần phong kiến cường
hào (v́ cụ từng đỗ cử nhân khoa Canh Tư
(1900) lúc 24 tuổi, lại đỗ Tiến sĩ khoa
Giáp Th́n (1904) lúc 28 tuổi), mà thật ra cụ không
hề nhận chức tước, phẩm hàm ǵ,
chỉ cam phận sống thanh nhàn ẩn dật.
Cụ bị đấu ba đêm liền, bị
kết án 15 năm tù khổ sai, bị giam ở
trại Đâng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi nước
rất độc, nên ngay mùa Thu năm ấy, cụ
bị phù thũng chết trong trại tù, vùi xác
ở ven rừng. Cụ Nghè Nguyễn Mai từ
trần trong uất hận là nỗi đau lớn, nhưng
nỗi đau c̣n lớn hơn nữa cho dân tộc là
do cụ bị quy oan như vậy, mà đội CCRĐ
đă phá hủy nhiều đền đài, bia,
miếu thờ của các danh nhân họ Nguyễn Tiên
Điền và nghiêm trọng hơn nữa đă đốt
cháy ngôi nhà năm gian chứa đầy thư
tịch quư giá của ḍng họ Nguyễn Tiên Điền,
trong đó có di cảo của thi hào Nguyễn Du.
Một sự mất mát lớn lao về văn hóa không
có ǵ bù lại được! (Xem sách “Bể Dâu
Trong Ḍng Họ Nguyễn Du” của Đặng Cao
Ruyện, NXB Miền Đông Hoa Kỳ, 2002, tr. 200, 201).C̣n
một chuyện này nữa. Trong cuộc hội
nghị cán bộ do TƯ Đảng triệu tập sau
khi có nghị quyết sửa sai trong CCRĐ hồi tháng
09.1956, tôi được nghe ông Cù Huy Cận, lúc
đó là thứ trưởng Bộ văn hóa, nói
ở cuộc họp tổ là tấm bia đá của
Lê Lợi đă bị đội CCRĐ phá hủy.
Bộ văn hóa phải cấp tốc thuê làm bia khác
giống hệt bia cũ rồi đặt vào chỗ
cũ và phải tuyệt đối giữ bí mật
để không ai biết là bia mới! Tôi không có
điều kiện kiểm chứng, nhưng chẳng
lẽ ông thứ trưởng văn hóa lại nói sai?!
|